thumb

Quy chế đào tạo trình độ đại học theo hệ thống tín chỉ

QUY CHẾ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG ĐÔ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 564/QĐ-ĐHĐĐ ngày 25/6/2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Đông Đô)

CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy chế này quy định đào tạo trình độ đại học theo hệ thống tín chỉ, gồm tổ chức đào tạo, kiểm tra và thi học phần, xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy chế này áp dụng cho chương trình đào tạo (viết tắt là chương trình) trình độ đại học theo hình thức tích lũy tín chỉ của Trường Đại học Đông Đô.

Điều 2. Chương trình, đề cương chi tiết học phần

1. Chương trình cần thể hiện rõ trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kết hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình.

2. Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính – ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

3. Đề cương chi tiết của từng học phần cần thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu tham khảo; điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập học phần (nếu có).

4. Chương trình có khối lượng không dưới 180 tín chỉ đối với khóa đại học 6 năm, 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm, 120 tín chỉ đối với khóa đại học 4 năm.

5. Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên quản lý nội dung chương trình tất cả các ngành Nhà trường đào tạo. Việc sửa đổi, bổ sung, cập nhật nội dung chương trình tuân thủ quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà sinh viên phải đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi chương trình đào tạo trình độ đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo; được Hội đồng khoa học và đào tạo của khoa, ngành thống nhất; trình Hội đồng khoa học thông qua, đề nghị Hiệu trưởng Nhà trường phê duyệt.

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập. Mỗi học phần được đặt một mã số do Nhà trường quy định. Các học phần được bố trí giảng dạy theo học kỳ, phù hợp với tiến độ thực hiện chương trình của năm học. Học phần thường có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bổ đều trong một học kỳ. Trường hợp sinh viên không đủ điều kiện làm đồ án/khóa luận tốt nghiệp, Khoa/Ngành chọn học phần có số tín chỉ tương đương với số tín chỉ của đồ án/khóa luận tốt nghiệp học thay thế.

2. Phân loại học phần

a. Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy.

b. Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của Nhà trường nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn hoặc được chọn tùy ý để tích lũy đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình.

c. Học phần tương đương là học phần thuộc chương trình của khóa, ngành khác đang tổ chức dào tạo tại trường hoặc một đơn vị đào tạo khác có cùng số tín chỉ tương đương sẽ được phép tích lũy để thay thế cho học phần trong chương trình của ngành đào tạo. Hiệu trưởng quy định học phần tương đương trên cơ sở đề xuất của Khoa/Ngành, của Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên.

d. Học phần thay thế là học phần thuộc chương trình cũ nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy. Hiệu trưởng quyết định học phần thay thế trên cơ sở đề xuất của Khoa/ Ngành, của Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên.

e. Học phần tiên quyết là học phần mà sinh viên phải học xong (có thể chưa đạt) mới được học học phần kế tiếp.

f. Học phần điều kiện (Giáo dục thể chất, Giáo dục Quốc phòng An ninh, học phần rèn nghề (nếu có) là các học phần mà số tín chỉ của chúng không được tính vào số tín chỉ tích lũy của chương trình, nhưng là điều kiện xét tốt nghiệp ra trường. Sinh viên phải đạt các học phần điều kiện mới đủ điều kiện xét tốt nghiệp.

3. Tín chỉ là đơn vị dùng để tính khối lượng học tập của sinh viên. 1 tín chỉ bằng 15 giờ lý thuyết; 30-45 giờ thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án khóa luận tốt nghiệp. Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

Một giờ học được tính bằng 50 phút, nghỉ giải lao 10 phút.

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

1. Thời gian hoạt động giảng dạy của Trường được tính từ 07h00 đến 20h30 hàng ngày. Tùy theo tình hình thực tế, Hiệu trưởng Nhà trường quy định cụ thể thời gian hoạt động giảng dạy của trường.

2. Tùy theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường, Khoa xây dựng thời khóa biểu tuần, gửi Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên theo dõi (trên cơ sở lịch học kỳ Khoa/Ngành đã đăng ký).

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).

2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình cộng của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.

3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của các học phần đã được đánh giá theo thang điểm A, B+, B, C+, C, D+, D tính từ đầu khóa học. Học phần bị điểm F không được tính vào khối lượng kiến thức tích lũy .

4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm A; B+, B; C+, C; D+, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào thời điểm kết thúc mỗi học kỳ. Điểm F không được tính vào điểm trung bình chung tích lũy.

Các học phần Giáo dục thể chất, Giáo dục Quốc phòng An ninh không được tính vào điểm trung bình chung học kỳ, khối lượng kiến thức tích lũy, điểm trung bình chung tích lũy.

CHƯƠNG II. TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Trường Đại học Đông Đô tổ chức đào tạo theo khóa học, năm học và học kỳ.

a. Khóa học là thời gian cần thiết để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tùy thuộc chương trình, khóa học được quy định như sau: Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 3 (ba) đến 5 (năm) năm tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ 2,5 năm (hai năm rưỡi) đến 4 (bốn) năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo; từ 1,5 (một năm rưỡi) đến 2 (hai) năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.

b. Một năm học có 02 học kỳ chính và 01 học kỳ phụ:

Học kỳ chính là học kỳ bắt buộc trong kế hoạch đào tạo của năm học. Có học kỳ I và học kỳ II, mỗi học kỳ có thời lượng ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi.

Học kỳ phụ được tổ chức trong thời gian nghỉ hè của sinh viên; được tổ chức để sinh viên có điều kiện học lại, học bù, học vượt. Mỗi học kỳ có ít nhất 5 tuần học và 1 tuần thi. Sinh viên có nhu cầu học, đăng ký với cố vấn học tập hoặc giáo vụ Khoa, lập danh sách chuyển Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên trình Ban Giám hiệu phê duyệt.

2. Việc phân bổ số học phần, số tín chỉ cho từng học kỳ, từng năm học được thiết kế trong chương trình của Nhà trường.

3. Thời gian tối đa để sinh viên hoàn thành khóa học gồm: Thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của Điều này, cộng với 2 học kỳ đối với các khoá học dưới 3 năm; 4 học kỳ đối với các khóa học từ 3 đến dưới 5 năm; 6 học kỳ đối với các khóa học từ 5 đến 6 năm nhưng không được vượt quá 2 lần so với thời gian thiết kế cho chương trình đó. Thời gian tối đa cho sinh viên được phép học tập trong trường bao gồm cả thời gian dành cho loại hình học cùng lúc hai chương trình, thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân và thời gian học ở trường khác trước khi chuyển về trường Đại học Đông Đô (nếu có).

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Khi đăng ký nhập học, sinh viên phải nộp đủ các giấy tờ theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành. Tất cả giấy tờ nhập học được xếp vào túi hồ sơ của từng sinh viên, do Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên quản lý.

2. Nếu đủ điều kiện nhập học, Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên của trường và cấp cho họ:

a. Thẻ sinh viên;

b. Sổ đăng ký học tập;

c. Phiếu nhận cố vấn học tập.

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải hoàn thành trong thời gian theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành.

4. Sinh viên nhập học được Nhà trường cung cấp đầy đủ thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.

Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo

1. Trường Đại học Đông Đô tuyển sinh theo ngành đào tạo. Thí sinh đủ điều kiện trúng tuyển sẽ được sắp xếp vào các lớp học theo ngành đào tạo đã đăng ký.

2. Tùy theo số lượng sinh viên, dựa trên năng lực và sở trường của mình, sinh viên có thể đăng ký học chuyên ngành khác của ngành đã đăng ký mà Nhà trường có; phù hợp với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Nhà trường.

Số lượng sinh viên tối thiếu của một lớp học chuyên ngành do Hiệu trưởng nhà trường quy định cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế.

Điều 9. Tổ chức lớp học

1. Lớp học được tổ chức trên cơ sở số lượng sinh viên đã nhập học theo ngành hoặc chuyên ngành đào tạo.

a. Lớp học được tổ chức theo Quy chế công tác học sinh sinh viên, có hệ thống tổ chức gồm cố vấn học tập (kiêm giáo viên chủ nhiệm lớp), ban cán sự lớp, ban chấp hành chi đoàn lớp, các tổ sinh viên của lớp. Hiệu trưởng Nhà trường quy định cụ thể số lượng sinh viên tối thiếu của một lớp học.

b. Lớp học được tổ chức học các học phần theo từng học kỳ đã được thiết kế trong chương trình cho khóa học. Quản lý sinh viên của lớp trong thời gian học do cố vấn học tập và Ban cán sự lớp thực hiện.

c. Lớp học có mã tên riêng, gắn với Khoa, Khóa, Ngành/Chuyên ngành. Nếu thay đổi loại hình đào tạo theo quy định, mã lớp học sẽ được thay đổi cho phù hợp.

2. Lớp học phần được tổ chức trên cơ sở số lượng sinh viên đăng ký học tích lũy khối lượng kiến thức theo học phần; sinh viên học lại, học cải thiện điểm, học vượt được tham gia lớp học phần.

a. Lớp học phần có thời khóa biểu, lịch thi và có mã lớp. Hiệu trưởng Nhà trường quy định số lượng sinh viên của lớp học phần.

b. Lớp học phần không có ban cán sự lớp. Giảng viên giảng dạy học phần là người trực tiếp quản lý lớp học và cho điểm thành phần trong quá trình học tập.

Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu mỗi năm học, Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình của từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để sinh viên được đăng ký học, lịch và hình thức kiểm tra, thi đối với các học phần.

2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, sinh viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó với Khoa/Ngành dưới sự hướng dấn của cố vấn học tập. Đối với sinh viên đã tốt nghiệp trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp hoặc đã có bảng điểm công nhận học phần, Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên phối hợp với Khoa/Ngành căn cứ bảng điểm, loại hình đào tạo để xem xét cho sinh viên được chuyển điểm theo quy định của Nhà trường. Có ba hình thức đăng ký học học phần:

a. Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tháng;

b. Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;

c. Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp.

Tùy điều kiện đào tạo của Nhà trường, Hiệu trưởng xem xét, quyết định các hình thức đăng ký thích hợp.

3. Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a. 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b. 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu;

c. Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ.

4. Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ. Không hạn chế khối lượng đăng ký học tập của những sinh viên xếp hạng học lực khác.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập đã được thiết kế cho mỗi chương trình đã được Hiệu trưởng phê duyệt.

6. Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của cố vấn học tập trong sổ đăng ký học tập hoặc theo quy định của Hiệu trưởng. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ phải được ghi vào phiếu đăng ký học do Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên lưu trữ.

Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Sinh viên được út bớt học phần đã đăng ký vì các lý do cá nhân (sức khỏe, tài chính hoặc các lý do đặc biệt khác…), nhưng phải đảm bảo các điều kiện sau:

a. Trước khi kết thức tuần thứ 2 của học kỳ chính hoặc trong 01 tuần kể từ đầu học kỳ phụ, sinh viên phải viết đơn, cố vấn học tập ký xác nhận. Sinh viên trực tiếp nộp đơn xin rút bớt học phần lên Khoa/Ngành; nếu được đồng ý, lãnh đạo Khoa/Ngành sẽ trực tiếp giải quyết.

b. Sinh viên không vi phạm Khoản 3, Điều 10 của Quy định này.

2. Từ tuần thứ 3 của học kỳ chính và tuần thứ 2 của học kỳ phụ, các học phần đã đăng ký sẽ được giữ nguyên trong kết quả đăng ký học. Sinh viên có tên trong danh sách lớp học phần phải nộp học phí và nếu không tham gia học sẽ bị coi là tự ý bỏ học và học phần phải nhận điểm F.

Trường hợp đặc biệt, nếu sinh viên vẫn có nguyện vọng và nộp đơn xin rút bớt học phần, sinh viên được chấp nhận rút bớt học phần nhưng không được rút lại học phí đã nộp cho học phần đó; học phần sinh viên được rút bớt sẽ chuyển sang các học kỳ tiếp theo và không phải đóng học phí.

3. Sinh viên chỉ được phép không tham gia học học phần xin rút bớt sau khi Khoa/Ngành đã xóa tên trong danh sách lớp học phần và gửi danh sách lớp cho giảng viên học phần đó.

Điều 12. Đăng ký học lại, học cải thiện điểm, học vượt

1. Học lại

a. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B+, B, C+, C hoặc D+, D.

b. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc đổi sang học phần tự chọn tương đương khác ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A; B+, B; C+, C; D+, D.

c. Đối với sinh viên đã hết thời gian học tập chính thức tại trường theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 6 nhưng vẫn còn thời hạn kéo dài theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 mà vẫn còn nợ điểm học phần, nếu muốn học hoặc học lại cần đăng ký với Khoa/Ngành hoặc với Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên chậm nhất 01 tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới để được bổ sung vào danh sách lớp. Trường hợp không có lớp để học ghép trong học kỳ, Nhà trường sẽ xem xét mở lớp riêng nếu sinh viên yêu cầu.

2. Học cải thiện điểm

a. Đối với học phần đã học xong nhưng có kết quả không như mong muốn, sinh viên được phép đăng ký học lại để cải thiện điểm (trừ các học phần thực hành, thực tập nghề nghiệp, thực tập tốt nghiệp).

b. Khoa/Ngành sắp xếp cho sinh viên vào học lớp phù hợp và gửi danh sách cho Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên phối hợp quản lý. Nhà trường không hạn chế số lần học cải thiện điểm đối với mỗi học phần.

3. Học vượt

a. Học vượt là hình thức sinh viên đăng ký học thêm một hoặc một số học phần so với khối lượng học tập đã thiết kế trong chương trình cho một học kỳ hoặc một số học kỳ, năm học để tốt nghiệp sớm hơn so với thời gian quy định cho khóa học.

b. Nhà trường cho phép sinh viên học vượt trong các học kỳ nhà trường tổ chức. Nếu đủ điều kiện, sinh viên học vượt đăng ký, Khoa/Ngành lập danh sách sinh viên gửi Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên phối hợp quản lý.

Điều 13. Nghỉ ốm

Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình đào tạo hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép nghỉ ốm gửi Khoa/Ngành trong tuần đầu kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế trường hoặc y tế địa phương, bệnh viện.

Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi năm học, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo: sinh viên năm thứ nhất, sinh viên năm thứ hai, sinh viên năm thứ ba, sinh viên năm thứ tư, sinh viên năm thứ năm. Căn cứ khối lượng của từng chương trình, được quy định tại khoản 4 Điều 2 của Quy chế này, Hiệu trưởng Nhà trường quy định cụ thể giới hạn khối lượng kiến thức để chuyển xếp hạng năm đào tạo.

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích lũy, sinh viên được xếp hạng về học lực:

STT

Học lực

Xếp loại

Thang điểm

Ghi chú

10

4

Chữ

1

Đạt

Giỏi

Từ 8.5 đến 10

4.0

A

 

2

Khá

Từ 8.0 đến 8.4

3.5

B+

 

3

Từ 7.0 đến 7.9

3.0

B

 

4

Trung bình

Từ 6.5 đến 6.9

2.5

C+

 

5

Từ 5.5 đến 6.4

2.0

C

 

6

Yếu

Từ 5.0 đến 5.4

1.5

D+

 

7

Từ 4.0 đến 4.9

1.0

D

 

8

Không đạt

Kém

Từ 0.0 đến 3.9

0.0

F

 

3. Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước học kỳ phụ để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp:

a. Được điều động vào lực lượng vũ trang;

b. Bị ốm, bị tai nạn phải điều trị thời gian dài, có giấy xác nhận của cơ quan y tế;

c. Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhât một học kỳ ở trường, không ở trong các trường hợp bị buộc thôi học, quy định tại Điều 16 của Quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy khống dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này.

Sinh viên xin nghỉ học tạm thời phải viết đơn, có xác nhận của lãnh đạo Khoa/ Ngành, Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên trình Hiệu trưởng ký quyết định cho sinh viên nghỉ học tạm thời. Trước khi được xét nghỉ tạm thời, sinh viên phải hoàn thành nghĩa vụ học phí với Nhà trường.

2. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất 1 tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.

a. Đối với trường hợp được điều động vào lực lượng vũ trang, sinh viên phải nộp đơn xin trở lại học tập kèm bản sao quyết định xuất ngũ.

b. Đối với trường hợp bị ốm đau, tai nạn phải điều trị lâu dài, sinh viên phải nộp đơn kèm theo xác nhận của cơ quan y tế nơi đã trực tiếp điều trị cho sinh viên.

c. Ngoài 2 trường hợp trên, sinh viên nộp đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về ý thức chấp hành pháp luật trong thời gian về nghỉ tại địa phương.

Điều 16. Cảnh báo kết quả học tập, buộc thôi học

1. Cảnh báo kết quả học tập được thực hiện theo từng học kỳ, nhằm giúp sinh viên có kết quả học tập kém biết và lập phương án học tập thích hợp để có thể tốt nghiệp trong thời hạn tối đa được phép theo học chương trình. Việc cảnh báo kết quả học tập của sinh viên được dựa trên một trong các điều kiện sau:

a. Điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năng thứ nhất, dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai, dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khóa;

b. Điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0.80 đối với học kỳ đầu của khóa học, dưới 1,00 đối với các học kì tiếp theo;

c. Tổng số tín chỉ của các học phần bị điểm F còn tồn đọng tính từ đầu khóa học đến thời điểm xét vượt quá 24 tín chỉ.

d. Số lần bị cảnh báo kết quả học tập trong toàn khóa học tối đa 4 lần (4 học kỳ) nhưng không được phép bị cảnh báo kết quả học tập của 2 kỳ chính liên tiếp.

e. Sinh viên bị cảnh báo kết quả học tập vẫn được giữ sĩ số, được xét học vụ và hạnh kiểm theo lớp. Sinh viên bị cảnh báo kết quả học tập cần tăng cường liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp để được tư vấn về kế hoạch học tập của cá nhân.

2. Xử lý thôi học

a. Cho thôi học: căn cứ nhu cầu cá nhân, sinh viên viết đơn xin thôi học. Nhà trường quyết định cho sinh viên thôi học nếu đơn xin thôi học có lý do rõ ràng, hợp lệ;

b. Buộc thôi học: nếu sau mỗi học kỳ, sinh viên thuộc một trong các trường hợp sau:

Bị cảnh báo kết quả học tập 2 học kỳ chính liên tiếp hoặc bị cảnh báo kết quả học tập lần thứ 4;

Đã hết thời gian tối đa được phép học mà chưa đủ điều kiện tốt nghiệp;

Thi hộ, học hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, học hộ lần thứ hai;

Bị kỷ luật ở mức xóa tên khỏi danh sách sinh viên của Nhà trường;

Chưa hoàn thành nghĩa vụ học phí theo quy định của Nhà trường.

2. Chậm nhất là 01 tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Nhà trường sẽ thông báo về nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Trường hợp sinh viên có nhu cầu chuyển sang học hệ thấp hơn cùng ngành đào tạo hoặc ngành khác của trường thì phải viết đơn và nếu được xét chuyển, sẽ được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở chương trình mới. Khoa/Ngành báo cáo Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên trình Hiệu trưởng xem xét, quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình

1. Học cùng lúc hai chương trình dành cho sinh viên có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nhiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình

a. Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo ở chương trình thứ nhất;

b. Sau khi đã kết thức học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất, sinh viên không thuộc diện xếp loại học lực yếu;

c. Trong quá trình sinh viên học cùng lúc hai chương trình, nếu điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 2,00 thì phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo nhưng được bảo lưu kết quả các học phần đã đạt và nếu đủ điều kiện và có nhu cầu, sinh viên được học tiếp chương trình thứ hai vào các năm học sau.

3. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại Khoản 3 Điều 6 của Quy chế này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.

4. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18. Chuyển trường

1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có điều kiện sau đây:

a. Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;

b. Xin chuyển đến trường có ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;

c. Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường chuyển đến;

d. Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

a. Sinh viên đã tham dự thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;

b. Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;

c. Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;

d. Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên;

e. Sinh viên nợ học phí hoặc các tài sản khác của trường.

3. Thủ tục chuyển trường:

a. Thủ tục chuyển đi.

Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của Nhà trường nộp Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên. Hồ sơ gồm: Đơn xin chuyển trường (theo mẫu của Nhà trường); Kết quả học tập các học phần đã học tại trường, có xác nhận của Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên.

Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên trình hồ sơ của sinh viên xin chuyển trường lên Hiệu trưởng xem xét, quyết định cho sinh viên chuyển trường khi đủ điều kiện;

Sau khi được phép chuyển trường, sinh viên chuyển toàn bộ giấy tờ có liên quan về trường xin chuyển đến. Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên xóa tên sinh viên khỏi danh sách sinh viên của Nhà trường và thông báo lại cho Khoa/Ngành.

b. Thủ tục chuyển đến

Sinh viên từ trường khác chuyển đến Trường Đại học Đông Đô phải nộp hồ sơ xin chuyển trường cho Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên. Hồ sơ gồm: Đơn xin chuyển trường có xác nhận cho phép chuyển đi của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi; Kết quả học tập (bảng điểm) của sinh viên học tại trường xin chuyển đi có xác nhận của Phòng Đào tạo trường xin chuyển đi; Các loại giấy tờ khác (trong trường hợp Nhà trường yêu cầu).

Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên trình hồ sơ sinh viên để Hiệu trưởng xem xét, nếu đồng ý sẽ ra quyết định tiếp nhận sinh viên vào trường. Khi đã có quyết định tiếp nhận sinh viên phải nộp bản chính bảng điểm đã học ở trường chuyển đi cho Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên, bảng điểm (photo) cho Khoa/Ngành nhập học;

Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên phối hợp với Khoa/Ngành so sánh hai chương trình để công nhận học phần và kết quả học tập học phần đã học của sinh viên chuyển đến, thông báo cho sinh viên biết khi có kết quả. Khoa/Ngành & Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên phối hợp sắp xếp lớp học cho sinh viên.

CHƯƠNG III. KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 19. Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần lý thuyết; vừa lý thuyết vừa thực hành, điểm đánh giá học phần gồm:

a. Điểm chuyên cần (10%) gồm điểm đánh giá thường xuyên quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm đánh giá thực hành;

b. Điểm điều kiện (30%) là điểm bài kiểm tra giữa kỳ do giảng viên thực hiện theo đề cương chi tiết học phần;

c. Điểm có hệ số 60% là điểm thi kết thúc học phần.

Công thức tính:

Điểm học phần (100%) = Điểm chuyên cần (10%) + Điểm điều kiện (30%) + Điểm thi kết thúc học phần (60%)

2. Đối với học phần thực hành: Sinh viên cần tham dự đầy đủ các bài thực hành

a. Điểm bộ phận của học phần thực hành là điểm chuyên cần và thái độ thực hành của sinh viên do giảng viên hướng dẫn đánh giá và cho điểm;

b. Điểm thi kết thúc học phần thực hành là điểm giảng viên chấm 01 bài thực hành của sinh viên.

c. Trường hợp chỉ có 01 giảng viên hướng dẫn và đánh giá kết quả học tập thì điểm học phần là điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn tới một chữ số thập phân.

3. Đối với các học phần thực tập nghề nghiệp: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực tập nghề nghiệp. Bài thi kết thúc học phần thực tập nghề nghiệp được tổ chức theo hình thức viết tiểu luận hoặc bài tập lớn…

a. Điểm bộ phận của học phần thực tập nghề nghiệp là điểm do giảng viên hướng dẫn thực tập nghề nghiệp đánh giá;

b. Điểm thi kết thúc học phần thực tập nghề nghiệp là điểm bài tập lớn hoặc điểm tiểu luận …

c. Nếu sinh viên không dự thi kết thúc học phần (không có lý do), điểm thi học phần đó sẽ là điểm 0 (không), điểm học phần đó là điểm F.

Điểm bộ phận và điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân.

4. Giảng viên giảng dạy học phần trực tiếp ra đề thi (đối với học phần chưa có ngân hàng câu hỏi), đề kiểm tra và cho điểm bộ phận của học phần.

Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ hoặc trong thời gian của mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức kỳ thi giữa học kỳ (dành cho các học phần 2 tín chỉ), kỳ thi chính vào cuối học kỳ cho tất cả các học phần và một kỳ thi phụ (thi lần 2). Kỳ thi phụ dành cho sinh viên không tham gia hoặc bị điểm F ở kỳ thi chính. Kỳ thi phụ được tổ chức sớm nhất là 2 tuần sau khi kết thúc buổi thi học phần cuối cùng ở kỳ thi chính. Các kỳ thi được tổ chức phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của từng Khoa/Ngành.

2. Thời gian ôn thi học phần tỷ lệ với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất có 2/3 ngày ôn thi cho 1 tín chỉ.

3. Khoa/Ngành lập lịch thi, danh sách sinh viên dự thi (có xác nhận của giáo vụ và lãnh đạo Khoa/Ngành). Cán bộ coi thi do Khoa/Ngành, Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên cử; Phòng Khảo thí - Thanh tra và Đảm bảo chất lượng cử cán bộ kiểm tra, giám sát; Phòng Hành chính Tổng hợp bố trí phòng thi, trình Hiệu trưởng phê duyệt.

4. Không tổ chức thi hết học phần bằng hình thức thi lý thuyết đối với các học phần thực hành, thực tập nghề nghiệp, rèn luyện. Thời gian thi kết thúc các học phần trên được tổ chức ngay sau khi giảng viên kết thúc giảng dạy học phần.

Phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên xây dựng quy định chi tiết về tổ chức thi học phần lý thuyết, thi các học phần thực hành, thực tập nghề nghiệp, rèn luyện trình Hiệu trưởng phê duyệt.

5. Sinh viên không được dự thi kết thúc học phần nếu:

a. Nghỉ quá số giờ lên lớp theo quy định. Khi đó, điểm thi học phần sẽ được tính là 0 điểm, điểm trung bình chung học phần là điểm F và sinh viên không được tham gia kỳ thi phụ. Trường hợp tham gia tích cực, có hiệu quả các hoạt động ngoại khóa, hoạt động vì cộng đồng; sinh viên sẽ được xem xét để được dự thi kết thúc học phần (theo đề nghị của Đoàn thanh niên, được sự đồng ý của giảng vi&e

Bình luận (0)

Để lại một bình luận