thumb

[Nghiên cứu] Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp

Assess the effectiveness of using State capital in enterprises

ThS. Chu Quốc Tế*


Tóm tắt

Chủ trương của Nhà nước cần đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, cùng với nó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp cổ phần luôn là vấn đề sống còn nhằm bảo tồn và phát triển vốn nhà nước. Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn tại các DNNN là một việc làm cần thiết nhằm đánh giá đúng thực trạng sử dụng vốn và hoạt động của DNNN, từ đó, đề xuất cơ chế chính sách giúp cơ quan quản lý nhà nước các cấp kịp thời phát hiện các yếu kém trong quá trình hoạt động kinh doanh của DNNN để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời. Việt Nam trong những năm gần đây đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại DNNN càng trở nên cấp thiết.  Quản lý tốt vốn nhà nước tại các DNNN có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo đảm tài sản quốc gia và giữa vững vị trí chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân.

Overview

The policy of State is to strengthen the private economic setor and increase the effectiveness of using capital in Stated-fund enterprises which is the fundamental matter in order to garanteer the State capital. Study of the effectiveness in using capital in State enterprises is neccessary in order to assess the capital and operation effectiveness of enterprises, to promote the policies that help Stated organisations detect shortcomings in business operation of enterprises so as to solve the problems in time. Viet Nam has recently enhanced restruturing the economy  that the increase of effectiveness in using capital has become more important and urgent. Well-management of state capital  in enterprises play a very fundamental role in securing the national capital and the key role of State in the national econoy.

 Nội dung

Thực tế, các DNNN nắm giữ lượng vốn lớn, có giá trị tổng tài sản cao, đóng góp nguồn thu lớn cho NSNN. Khối tài sản nằm trong các DNNN, doanh nghiệp có vốn nhà nước được ước tính lên tới gần 400 tỷ USD. Hiện việc quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp rất phân tán và do nhiều đầu mối đảm nhận, bao gồm Chính phủ, các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các tỉnh và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Tình trạng các Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện đồng thời cả ba chức năng: quản lý nhà nước về kinh tế, chủ quản cấp trên đối với doanh nghiệp và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp vẫn còn phổ biến. Cơ chế quan lý này đã và đang làm suy giảm hiệu quả sử dụng vốn tại các DNNN.

Hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DNNN vẫn chưa tương xứng với nguồn lực, doanh thu chỉ đạt 1.709.171 tỷ đồng và lợi nhuận là 166.941 tỷ đồng. Trong khi đó, các DNNN vẫn đầu tư vào một số lĩnh vực không thuộc ngành nghề kinh doanh chính như: ngân hàng (13.152 tỷ đồng), bất động sản (6.089 tỷ đồng), chứng khoán (1.106 tỷ đồng)… Dù số lượng DNNN đã giảm nhưng cơ cấu vốn của khu vực này thời gian qua gần như không thay đổi, tỷ trọng vốn vay so với tổng nguồn vốn của DN luôn lớn. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2012 dư nợ vay ngân hàng của DNNN là 402.955 tỷ đồng, chiếm 43,7% tổng ngồn vốn. Tổng số nợ phải trả của các TĐ, TCT năm 2012 là 1.348.752 tỷ đồng, chiếm 56% tổng ngồn vốn. Trong đó, có 48 TĐ, TCT có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu trên 3 lần, chủ yếu tập trung vào các DN thuộc lĩnh vực xây dựng, xây dựng giao thông. Ngoài vấn đề nợ, tình hình tài chính tại nhiều TĐ, TCT còn chưa đảm bảo các yêu cầu về an toàn tài chính, tiềm tàng nhiều nguy cơ rủi ro vì kinh doanh không hiệu quả, thua lỗ như TĐ Điện lực Việt Nam; nhiều tiêu cực, tội phạm đã sảy ra như: TCT Công nghiệp tàu thủy, TCT Hàng hải Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Sự cứng nhắc về cơ cấu vốn đôi khi gây khó khăn cho doanh nghiệp nhà nước trong việc phát triển và hoàn thành các mục tiêu DN. Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu cần xây dựng một chính sách tổng thể và tạo cơ chế cho phép thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp nhà nước một cách thích hợp.

       Nhà nước thường bảo lãnh cho DNNN để bù đắp cho việc nhà nước không thể cung cấp đủ vốn chủ sở hữu cho DN, nhưng điều kiện thuận lợi này thường bị lạm dụng. Nguyên tắc chung là nhà nước không được tự động bảo lãnh các khoản nợ của DNNN. Do đó cần phân định rõ trách nhiệm liên quan tới chủ nợ của nhà nước và của DNNN. Các vấn đề liên quan tới công bố thông tin và chi phí cho bảo lãnh của nhà nước cần được xây dựng và doanh nghiệp nhà nước  phải được khuyến khích tìm kiếm nguồn tài chính từ thị trường vốn.

I. Vốn và sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước.

1.1 Vốn nhà nước

Để các doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này phải có vốn, vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và vốn do doanh nghiệp đó huy động. Trong thực tế, đối với các doanh nghiệp không phải là DNNN thì phần vốn doanh nghiệp huy động có thể là vốn của tư nhân hoặc vốn của nhà nước. Đối với các DNNN để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cần phải có vốn, vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu của DNNN và vốn do DNNN đó huy động. Theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, Vốn của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và vốn do doanh nghiệp huy động (Khoản 9, Điều 3). Trong đó, vốn chủ sở hữu của DNNN thực chất là vốn nhà nước hay còn gọi là vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, vốn này là “số vốn thuộc sở hữu nhà nước mà chủ sở hữu là Nhà nước và đối tượng sở hữu là vốn được pháp luật hiện hành thừa nhận thuộc chủ quyền của quốc gia, của Nhà nước” [37, tr. 10], bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp (khoản 8, Điều 3, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014).

Trong thực tế, hoạt động của DNNN hiện nay chủ yếu dựa vào vốn nhà nước đầu tư. Tại Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”.

Tại Điều 4 giải thích từ ngữ Luật Đấu thầu năm 2013 quy định: “Vốn Nhà nước bao gồm vốn ngân sách Nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất”.

Tại Điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 quy định: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp là việc Nhà nước sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp. Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

Như thế, thực chất vốn nhà nước tại DNNN chính là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà DNNN đang nắm giữ nhưng do nhà nước làm chủ sở hữu, tuy nhiên, phần vốn này không phải là phần vốn của các công ty mẹ (tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước) đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết. Theo đó vốn nhà nước trong DNNN được quan niệm là toàn bộ giá trị bằng tiền hay giá trị bằng tài sản do nhà nước đầu tư để ứng ra ban đầu và trong các quá trình sản xuất tiếp theo của DNNN, đây là nguồn lực số một của hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

1.2. Đặc điểm và vai trò của vốn trong doanh nghiệp nhà nước

 Đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp nhà nước

Vốn trong DNNN có đặc điểm chung giống như vốn trong các DN khác, đó là:

 Thứ nhất, vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. 

Thứ hai, vốn vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. 

Thứ ba, vốn được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, có như vậy mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. 

Thứ tư, vốn gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô chủ và không ai quản lý. 

Thứ năm, vốn được quan niệm như một hàng hóa đặc biệt, có thể mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường.

Tuy nhiên bên cạnh đó, vốn trong DNNN có những đặc điểm riêng sau:

- Vốn trong DNNN bao gồm vốn chủ sở hữu của DNNN và vốn do DNNN huy động. Vốn chủ sở hữu của DNNN thực chất là vốn nhà nước, đây là khoản vốn được lấy ra từ ngân sách nhà nước hàng năm để đầu tư tại các DNNN nhằm đảm bảo ổn định nguồn vốn và vai trò người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong DN.

- Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước là vốn cấp từ NSNN cho doanh nghiệp khi thành lập, trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn nhà nước được tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; giá trị của các khoản viện trợ, quà biếu, quà tặng; tài sản vô chủ, tài sản dôi thừa khi kiểm kê DNNN được hoạch toán tăng vốn nhà nước tại DNNN; vốn bổ sung từ lợi nhuận sau thuế; giá trị quyền sử dụng đất và các khoản khác được tính vào vốn nhà nước theo quy định pháp luật.

- Vốn trong DNNN chiếm đa số là vốn nhà nước.

Tỷ lệ vốn nhà nước trong tổng vốn của DNNN luôn trên 50%. Mặc dù tỷ lệ này được quy định khác nhau ở mỗi quốc gia và quy sự quy định khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển ở mỗi nước, nhưng tỷ lệ vốn nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối trong DNNN luôn không thay đổi, luôn trên 50%, có thể 100%. Quy định này nhằm đảm bảo vai trò của Nhà nước trong việc quyết định chi phối hoạt động doanh nghiệp.

        Vai trò của vốn trong doanh nghiệp nhà nước

Vốn là yếu tố cơ bản không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất kinh doanh và đồng thời, vốn cùng là yếu tố quan trọng đối với sự tăng trưởng, phát triển của đất nước, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.

Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dù bất kỳ quy mô nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định, nó là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp.

Về mặt pháp lý: DNNN khi muốn thành lập, điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật qui định cho từng loại DNNN). Khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập. Ngược lại, việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện được. Theo điều 4- chương II Quy chế quản lý Tài chính và Hạch toán kinh doanh đối với DNNN, nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn điều lệ của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, tức là thấp hơn tổng mức vốn pháp định của các ngành nghề mà doanh nghiệp đó kinh doanh thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập doanh nghiệp đó phải cấp bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp, hoặc giảm ngành nghề kinh doanh cho doanh nghiệp hoặc phải tuyên bố chấm dứt hoạt động như: phá sản, giải thể, sát nhập…. Như vậy, vốn có thể được xem như là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật.

Về mặt kinh tế: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ để phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục.

Vốn là yếu tố quan trọng quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ... tất cả những yếu tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn.

Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Có vốn giúp doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, thâm nhập vào thị trường mới, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.

Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy, doanh nghiệp cần phải có những biện pháp hữu hiệu huy động đảm bảo đủ vốn cho doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả.

1.3. Sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước

Sử dụng vốn tại DNNN là việc đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận cho DN. Trên thực tế, sử dụng vốn tại DNNN được thực hiện theo hai hình thức: sử dụng vốn trong phạm vi DNNN và sử dụng vốn đầu từ ra ngoài phạm vi DNNN.

Thứ nhất, sử dụng vốn trong phạm vi DNNN.

Trong nền kinh tế thị trường, DNNN là một đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, được tự chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước thực hiện việc giao quyền sử dụng vốn và tài sản cho doanh nghiệp nhằm tạo ra sự độc lập tương đối trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh. Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụng vốn và tài sản là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp. Vì thế, DNNN có nghĩa vụ theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản, đảm bảo theo đúng các nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản, mất vốn của nhà nước. Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả.

Trên tinh thần đó, DNNN có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành; phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo đó, DNNN được quyền sử dụng vốn và qũy để kinh doanh theo nguyên tắc có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn. Trường hợp sử dụng các loại vốn và qũy khác với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn và qũy đó thì phải theo nguyên tắc hoàn trả, như: dùng các qũy dự phòng, qũy khen thưởng, qũy phúc lợi...để kinh doanh thì phải hoàn trả qũy đó khi có nhu cầu sử dụng. Những DN này được quyền thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc phát triển kinh doanh có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn.

Cùng với đó, các DNNN phải xây dựng quy chế quản lý, bảo quản, sử dụng tài sản của doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với các trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản. Định kỳ và khi kết thúc năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê toàn bộ tài sản và vốn hiện có; xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ đọng, mất phẩm chất, nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứ lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp. Định kỳ (tháng, qúy) doanh nghiệp phải đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn, qúa hạn và các khoản nợ khó đòi. Các khoản nợ không thu hồi được, cần xác định rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý.

Trong quá trình sản xuất, kinh doanh của mình, các DNNN được quyền cho thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phải theo dõi, thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê. Đối với tài sản cho thuê hoạt động, DN vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định. DN được đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. DN không được đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mượn, đi thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp ... của DN khác nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản đó.

Ngoài ra, DNNN được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu qủa hơn. Chênh lệch giữa số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán và chi phí nhượng bán, thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết qủa kinh doanh của doanh nghiệp. Mọi tổn thất tài sản của DN phải lập biên bản xác định mức độ, nguyên nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử lý. DN được đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại tài sản theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần hóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản để liên doanh, góp vốn cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản về).

Thứ hai, sử dụng vốn đầu tư ra ngoài phạm vi DNNN.

DNNN được sử dụng vốn, tài sản để đầu tư ra ngoài DN theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật.. Các hình thức đầu tư ra ngoài DN gồm: mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác ... DNNN được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình sử dụng vốn, DNNN phải có nghĩa vụ bảo toàn và phát triển vốn. Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của DNNN để bảo vệ lợi ích của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho người lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Các biện pháp bảo toàn vốn thường được áp dụng là:

-Thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các quy định của Nhà nước;

-Thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh;

 - DNNN được hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi phí hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định như: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu khó đòi, dự phòng giảm giá các loại chứng khoán trong hoạt động tài chính...

Việc lập và sử dụng các khoản dự phòng nói trên thực hiện theo quy định hiện hành. Ngoài các biện pháp trên, doanh nghiệp được dùng lãi năm sau (trước thuế hoặc sau thuế) để bù lỗ các năm trước, được hạch toán một số thiệt hại (thiên tai, dịch bệnh ...) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nước.

II. Hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước

 

 

 

 

 

 

2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước

Để đánh giá trình độ quản trị điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.Trong phạm vi quản trị doanh nghiệp, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất. Do đó các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và quản trị sử dụng vốn nói riêng.

Hiệu quả sử dụng vốn của DNNN là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản trị vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của DNNN là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, góp phần vào bảo đảm và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn…. Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chí phí bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Phải khai thác nguồn vốn một cách triệt để nghĩa là không để vốn nhàn rỗi mà không sử dụng, không sinh lời.

- Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm

- Phải quản trị vốn một cách chặt chẽ nghĩa là không để vốn bị sử dụng sai mục đích, không để vốn thất thoát do buông lỏng quản trị.

Ngoài ra DNNN phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những ưu điểm của DNNN trong quản trị và sử dụng vốn.

2.2. Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước

Cũng như các doanh nghiệp nói chung, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại DNNN dựa trên các tiêu chí cơ bản sau:

 Các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát như: hệ số bảo tồn vốn, hệ số vòng quay vốn, sức sinh lời vốn, sức sinh lời vốn chủ sở hữu, v.v.. Trong đó:

- Hệ số bảo tồn vốn (H)

 

 

 

 

Chỉ số này xác định rõ việc doanh nghiệp sau một chu kỳ sản xuất, kinh doanh có làm gia tăng lượng vốn đầu tư hay không. Nếu H< 1, doanh nghiệp không bảo toàn được vốn; H=1, doanh nghiệp bảo toàn được vốn; H>1, vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và ngày càng phát triển.

- Hệ số quay vòng vốn (S/A)

 

 

 

 

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp, nghĩa là vốn quay bao nhiêu vòng trong năm. Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả.

- Sức sinh lời của vốn (ROA)

Trong đó:

Sức sinh lời của vốn (còn gọi là tỷ suất lợi nhuận vốn) cho biết cứ 01 đồng vốn sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA càng lớn thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu quả.

- Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)

Trong đó:

Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (còn gọi là tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu) đo lượng mức sinh lời của mỗi đồng vốn chủ sở hữu, nó phản ánh trình độ sử dụng vốn của những người quản lý doanh nghiệp, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cho biết một đồng vốn mà các cổ đông bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lãi. Nhà đàu tư quan tâm nhất đến chỉ tiêu này, vì vậy nếu ROE cao sẽ giúp doanh nghiệp có thể tìm được nguồn vốn mới trên thị trường tài chính để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển, làm cho doanh nghiệp không ngừng phát triển. Ngược lại, nếu ROE thấp và dưới mức của hệ số sinh lời cần thiết trên thị trường thì doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động vốn nói chung và đặc biệt là vốn chủ sở hữu nõi riêng.

Bình luận (0)

Để lại một bình luận