Quay lại
Tiếp theo

[ Nghiên cứu ] Chiến lược phát triển tới năm 2025 đối với Công ty Cổ phần gas Petro Việt Nam

Nguyen Duc Bao Long
Dong Do University, Vietnam Nguyen Phuc Vinh Tuong
Hoang Nghiep
Training and Consutling, Vietnam Nguyen Duc Quynh Lan VP Operations, Lazada Express, Lazada Group
Phan Van Dinh
Ali Company Limited, Vietnam

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là để điều tra việc sử dụng khí gas thiên nhiên tại Việt Nam một cách hiệu quả và bền vững nhất. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng nhằm mục đích hiểu được con đường tăng trưởng kinh tế của các doanh nghiệp và nghiên cứu về an ninh năng lượng và an toàn môi trường. Ba kết quả nghiên cứu được chỉ ra như sau: thứ nhất, nếu công ty cổ phần Gas Petro Việt Nam (PV Gas, khí, Tổng công ty) có chiến lược kinh doanh trong điều kiện thị trường tự do, điều này sẽ thêm nhiều giá trị cho các bên liên quan quan trọng bao gồm chính phủ, cộng đồng, tập đoàn Petro Việt Nam (PVN, nhóm), Tổng công ty, khách hàng, công ty con, nhà phân phối, nhà cung cấp và đội ngũ nhân viên. Thứ hai, PV Gas tập trung nhiều vào an ninh năng lượng hơn là với tăng trưởng kinh tế, đã khiến kết quả tài chính bị thấp đi. Thứ ba, do khí đốt tự nhiên là một nguồn năng lượng có giới hạn, PV Gas nên nghiên cứu thêm về nhóm năng lượng thay thế cũng như cách xử lý lượng khí CO2 cao. Vì vậy, kết luận chính là ngành công nghiệp năng lượng không phải là cạnh tranh độc quyền mà là cạnh tranh bắt buộc; cách duy nhất là áp dụng lý thuyết trò chơi trong chiến lược của họ để đạt được tốt nhất.
Từ khoá: chiến lược của PV gas, khí gas tự nhiên Việt Nam, chiến lược, dựa trên xử lý, lý thuyết trò chơi, bắt buộc.
 
Giới thiệu
Khí đốt tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam, môi trường an toàn, an ninh khu vực doanh nghiệp và năng lượng. Theo Petro Vietnam Gas, tổng số nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ đạt khoảng 65 ~ 72 triệu tấn dầu tương đương (TOE) trong năm 2020, 94 ~ 97 triệu tấn dầu tương đương (TOE) vào năm 2025.
PV GAS được thành lập ngày 20 tháng 9 năm 1990, cơ cấu lại từ Ban quản lý dự án dầu khí Vũng Tàu, với tên gọi ban đầu là "Công ty dầu khí" để tham gia vào việc thu thập, nhập khẩu, vận chuyển, lưu trữ, chế biến, phân phối và kinh doanh khí đốt và sản phẩm khí đốt. Vào cuối năm 2015, PV GAS đã đạt được doanh thu hàng năm khoảng 3,5 tỷ USD, lợi nhuận sau thuế gần 700 triệu USD, với tổng tài sản khoảng 2,5 tỷ USD. Với những thành tựu to lớn, PV GAS được coi là nhà vận chuyển và cung cấp khí khô lớn nhất top các nhà sản xuất và công ty kinh doanh khí dầu hoá lỏng tại Việt Nam. PV Gas đã thực hiện các chiến lược và nhiệm vụ của chính phủ, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực và nguồn ổn định cho nhu cầu khí dầu hoá lỏng và góp phần ổn định giá dầu hoá lỏng trong nước.
Hiện nay, PVGAS vận chuyển và cung cấp 10 tỷ m3 khí / năm là nhiên liệu cho nhà máy điện, nhà máy phân bón và người tiêu dùng khí áp suất thấp khác để sản xuất khoảng 35% tổng sản lượng, 70% của tổng phân bón của cả nước; giao dịch trên 1,2 triệu tấn khí dầu hoá lỏng mỗi năm cho thị trường Việt Nam để đáp ứng 70% nhu cầu khí dầu hoá lỏng nội địa; Vận chuyển và giao dịch 200.000 tấn dầu cô đặc mỗi năm để sản xuất xăng; Nguồn cung cấp 50.000 – 70.000 tấn ống thép mỗi năm.
Kể từ khi niêm yết vào chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), mã hóa khí, với số vốn 5 USD tỷ đồng, PV GAS luôn dẫn đầu thị trường chứng khoán Việt Nam. Lợi ích cho các cổ đông vượt quá tổng số cổ tức dự kiến sẽ thực hiện 5 năm từ năm 2011 đến năm 2015 ước tính khoảng 154% vốn điều lệ. GAS là một trong những đơn vị hàng đầu của các nhóm đó được liệt kê trong top 50 công ty có giá trị nhất trong vùng biển của tạp chí Nikkei Asian Review đánh giá, xếp hạng trong các đầu năm 2000 công chúng công ty lớn nhất trên thế giới trong năm 2014, được liệt kê trong top 50 công ty tốt nhất Việt Nam năm 2015 do tạp chí Forbes , là top 10 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam, có các kết nối mạnh mẽ với tập đoàn khí đốt và dầu trên toàn thế giới như GAZPROM (Nga), ADNOC (UAE), ASTOMOS (Nhật bản), vv.
Sự phát triển của PV Gas có tác động đáng kể vào sự phát triển xã hội và kinh tế của cả nước. Ngày nay, khi dự trữ, biến động trong nhu cầu thị trường và nền kinh tế và tình hình xã hội, Tổng công ty khí PV sẽ điều chỉnh mục tiêu thăm dò khí cho phù hợp. Mặc dù, PV Gas đã phát triển kế hoạch cho giai đoạn 2020-2030 với mục đích trở thành Tổng công ty dầu khí số một ở đông nam á, kế hoạch vẫn tập trung hơn an ninh năng lượng hơn là tăng trưởng kinh tế.
Hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã nổi lên như là một nhà sản xuất dầu và khí đốt tự nhiên quan trọng tại đông nam á. Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thăm dò, cho phép nhiều công ty nước ngoài đầu tư và hợp tác trong các lĩnh vực dầu mỏ và khí, và giới thiệu các cải cách thị trường để hỗ trợ ngành công nghiệp năng lượng. Những biện pháp này đã giúp tăng dầu và sản xuất khí đốt, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của đất nước, công nghiệp hóa dầu và mở rộng thị trường xuất khẩu có mức tiêu thụ năng lượng trong nước dư thừa. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân 7.2% mỗi năm thập kỷ qua.
Khoảng 70% dân số Việt Nam sống ở nông thôn và làm nông nghiệp tại nơi có hơn 40% nhiên liệu sinh học đến từ chất thải. Việt Nam thúc đẩy việc sử dụng nhiên liệu sinh học thay thế cho các nhiên liệu hóa thạch. Việt Nam tiếp tục công nghiệp hóa và cài đặt khả năng sức mạnh và đang tìm kiếm để phát triển tốt hơn tất cả các tài nguyên thiên nhiên của nó.
 
Trữ lượng khí đốt tự nhiên
Việt Nam có trữ lượng khí đốt tự nhiên phong phú. Theo tạp chí dầu khí (OGJ), Việt Nam nắm giữ 24,7 nghìn tỷ mét khối khí đốt tự nhiên tính tới tháng 1 năm 2012. Dự trữ đã tăng từ năm 2007 là kết quả của chính sách thu hút đầu tư và khai thác ngoài khơi Việt Nam. Bên cạnh đó, Petro Việt Nam dự đoán rằng khoảng cách giữa cung và cầu vào năm 2025 sẽ khoảng 1,3 mét khối mỗi ngày.
Khai thác và sản xuất
Vẫn còn tương đối theo-khám phá, và có tiềm năng cho các công ty thăm dò phát hiện ra một số khí tự nhiên mới. Một số lĩnh vực dầu lớn nhất Việt Nam, chẳng hạn như bạch hổ, sản xuất một lượng nhỏ liên quan đến khí đốt tự nhiên. Gần như tất cả sản xuất khí đốt tự nhiên của Việt Nam có nguồn gốc từ lưu vực ngoài khơi 3: Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay Basin.
Vòng cấp phép quốc tế năm 2011 bao gồm một số khối từ lưu vực Nam Côn Sơn nặng khí tự nhiên, hiện nay lực lượng nòng cốt của nhu cầu khí tự nhiên ngày càng tăng nhanh tại miền Nam Việt Nam. Bồn trũng Nam Côn Block 06-1 nhà lĩnh vực khí tự nhiên lớn nhất của Việt Nam, Lan Tây, mà đến trực tuyến trong năm 2002. Lĩnh vực sản xuất khoảng 445 triệu feet khối mỗi ngày (MMcf/d) khí tự nhiên và 4.000 bbl/d công ngưng tụ trong năm 2011 và nguồn cấp dữ liệu khí để trên bờ Phu My điện phức tạp thông qua các đường ống Nam Côn Sơn. TNK-BP, nhà điều hành của các khối và một 35 phần trăm các bên liên quan, kế hoạch để bắt đầu sản xuất một lĩnh vực lân cận, Lan Do, quý IV năm 2012. Lan Do dự kiến để sản xuất Mmcf/d gần 200 tại đỉnh cao của nó và giúp bù đắp sản xuất giảm từ Lan Tay trong thập kỷ tiếp theo. Nhỏ hơn các lĩnh vực đang phát triển ở Nam Côn Sơn bao gồm Hải thạch và mộc Tinh, được lên kế hoạch trực tuyến vào năm 2013. Ngoài ra, một lượng nhỏ liên quan đến khí - 25 Mmcf/d - từ lĩnh vực Chim Sao mới đến trực tuyến trong năm 2011.
Hiện nay, các dự án phát triển khí lớn nhất Việt Nam nằm ở phần phía bắc của lòng chảo dùng chung với Malaysia và bao gồm thăm dò và phát triển của một số lĩnh vực ("Block B") và xây dựng một đường ống dẫn khí. Chevron có hai PSC trong lưu vực và dự kiến sẽ sản xuất để bắt đầu hoạt động năm 2014 đạt mức cao nhất là 490 MMcf/d.
Lưu vực sông Hồng có thể tăng cường khí phát triển tại miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các khí chứa mức độ cao của điôxít cacbon và hydro sulfua, tạo ra thách thức kỹ thuật và làm cho chi phí phát triển cao. Vietgazprom, tích cực khoan trong lưu vực sông Bao Vang và các khu vực khí 20-1.
 
Khí đốt hoá lỏng tự nhiên
Nhu cầu khí đốt tự nhiên tăng của Việt Nam đã khiến cho chính phủ xem xét nhập khẩu khí đốt thông qua LNG cho nhà máy điện nhiên liệu ở khu vực phía Nam. PV Gas ký hợp đồng kỹ thuật và phát triển (FEED) và một bản ghi nhớ với công ty Gas Tokyo để phát triển nhà ga Thi Vai LNG tại tỉnh Vũng tàu. PV Gas đề xuất xây dựng nhà ga trong hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên được báo cáo để mang từ 50 đến 150 BCF/Y trực tuyến 2015 và có thể mở rộng đến ít 380 Bcf/y vào năm 2025, theo nguồn tin chính phủ. PV Gas có ý định nhập khẩu khí từ Úc, Nga, Qatar và hiện là trong cuộc đàm phán với Qatar Gas trên một thỏa thuận cung cấp cho giai đoạn đầu tiên. Các nhà máy điện Hiệp Phước ký kết một biên bản ghi nhớ như là khách hàng quan trọng của LNG.
Chính phủ chấp thuận xây dựng một nhà ga khí hoá ở các tỉnh phía nam miền trung Bình Thuận vào năm 2011. Bình Thuận được báo cáo có sức chứa lên đến 150 Bcf/y và dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động khoảng năm 2018. PV Gas cũng có kế hoạch để xây dựng một 50 BCF/Y ra nước ngoài và các đơn vị dự trữ nổi và khí hoá tại Vũng tàu vào năm 2013. Tuy nhiên, công ty vẫn chưa bảo đảm chấp thuận và sắp xếp từ chính phủ. PV Gas có ý định sử dụng một nhà thầu tổng hợp để mua hàng hóa tại chỗ cho các thiết bị. Việt Nam đang xem xét việc phát triển của các thiết bị đầu cuối LNG ở khu vực miền Bắc và miền trung của đất nước, mặc dù, các kế hoạch trên đang được tiến hành cho đến khi có thêm cơ sở hạ tầng dầu khí.
 
Đường ống
Việt Nam có ba đường ống dẫn khí kết nối các lĩnh vực ngoài khơi phía Nam với các nhà máy điện và hệ thống phân phối khí trên bờ. Các đường ống dẫn chính là các đường ống Nam Côn Sơn 250 dặm, vận chuyển khí từ trường Lan Tây để các công ty định khí thực vật, Phu My điện phức tạp và amoniac nhà máy. Các tài khoản này của đường ống để vận chuyển một phần lớn của Việt Nam khí cung cấp và có sức chứa MMcf 680/d. Các đường ống bạch hổ, với sức chứa 150 MMcf/d, truyền liên quan đến khí từ lĩnh vực này bạch hổ để phú khả năng phức tạp của mình. Các đường ống thứ ba (200 MMcf/d công suất) chạy từ am-3 khu vực sắp xếp thương mại giữa Việt Nam và Malaysia để các nhà máy điện chu kỳ kết hợp Cà Mau. TNK-BP vận hành đường ống Nam Côn Sơn, trong khi Petro Việt Nam hoạt động những người khác.
Thứ hai đường ống Nam Côn Sơn, chạy song song với những người đầu tiên, đang phát triển và dự kiến sẽ hoàn thành bởi 2014. Dự án bao gồm xây dựng đường ống d-MMcf công suất 580, một loại khí 700-MMcf/d nhà máy sản xuất, và một hệ thống đường ống trên bờ kết nối các nhà máy chế biến khí với Trung tâm phân phối và nhà ga LPG. PV Gas trao hợp đồng cho phần trên bờ của các đường ống dẫn đến các đơn vị trực thuộc Petro Việt Nam như công ty đang tìm kiếm để đạt được nhiều kỹ thuật chuyên môn. Petro Việt Nam ước tính rằng cung cấp khí đốt của nước có thể tăng 30-40 phần trăm sau khi đường ống Nam Côn Sơn-2 là hoạt động các thể thơ đường ống (500 MMcf/d công suất), hiện đang xây dựng, được thiết lập để kết nối của Chevron khối ra nước ngoài từ các bang Malay Bồn trũng đến nhà máy năng lượng Cà Mau và đến trực tuyến 2014.
 
Phương pháp
Do tính chất của ngành công nghiệp khí và phạm vi của nghiên cứu này, nghiên cứu nội nghiệp và phương pháp Delphi đã được áp dụng như là công cụ quan trọng để đạt được các mục tiêu nêu trên. Nghiên cứu này bắt đầu với nghiên cứu nội nghiệp về vĩ mô và môi trường, và sau đó xem xét dữ liệu lịch sử của PV Gas liên quan đến sản xuất và tài chính trong 20 năm qua. Bên cạnh đó, trong chiều sâu các cuộc phỏng vấn được thực hiện với các chuyên gia trong ngành công nghiệp để đạt được những hiểu biết về công nghệ, đánh giá tình hình và xác nhận dữ liệu từ một góc nhìn khách quan hơn. Các phương pháp phân tích sau đây được sử dụng trong bài báo này cung cấp một cái nhìn toàn diện về ngành công nghiệp khí tự nhiên và PV Gas Việt Nam.

Những phát hiện từ xa và hoạt động
Thị trường khí đốt tự nhiên tại Việt Nam. Thị trường khí đốt hiện nay của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cấu trúc ngành công nghiệp, mà là độc quyền tích hợp theo chiều dọc với một cách tiếp cận song phương dự án. Kết quả là không có thị trường hoạt động, gây ra một số trở ngại cho sự phát triển của ngành công nghiệp khí. Thị trường khí đốt hiện nay khả năng sẽ tiếp tục được, phát triển dựa trên cách tiếp cận dự. Cơ sở hạ tầng kém phát triển - không có ống không có mạng lưới quốc gia - và điều này dẫn đến không có thị trường hàng hóa khí. Nói chung, như một người mua duy nhất, PVN thay mặt chính phủ, thỏa thuận với nhà sản xuất khí, thống trị thị trường và cố gắng để làm giảm giá khí đốt càng nhiều càng tốt và trì hoãn các dự án. Do đó, việc phát triển bị chậm lại. Mô hình này thường được thấy ở các nước có dự trữ khí nhỏ hơn giai đoạn đầu. Lợi thế của mô hình này có thể là điều cần thiết để bảo vệ vốn đầu tư là cần thiết và có thể dễ dàng hơn để tài chính cơ sở sản xuất và liên quan đến đường ống nếu biết trước rằng doanh thu được bảo đảm bằng hợp đồng dài hạn. Trong tương lai, để phát triển thị trường khí đốt, chính phủ có một kế hoạch để thiết lập một cạnh tranh thị trường nhằm mục đích khuyến khích đầu tư tư nhân và hỗ trợ phát triển cạnh tranh trên thị trường thế hệ quyền lực. Trong năm 2007, chiến lược quốc gia về năng lượng phát triển (NSED) đến năm 2020 đã được phát hành bởi chính phủ. Tài liệu này chứa tất cả các yếu tố của chính sách năng lượng và trong thời gian dài những nỗ lực của chính phủ: để dần dần xây dựng một thị trường năng lượng và đa dạng hoá các chế độ sở hữu và doanh nghiệp đối với những cách tốt nhất để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và tăng tốc độ loại bỏ trợ giá và độc quyền để diệt trừ việc thực hiện các chính sách xã hội thông qua giá năng lượng.
Kể từ năm 2015, Petro Vietnam Gas được niêm yết trên HOSE, PV Gas không còn là cạnh tranh độc quyền mà là cạnh tranh bắt buộc. Bên cạnh các hoạt động khai thác và sản xuất, PV Gas cũng duy trì các hoạt động nhập khẩu để nhập khẩu khí dầu hoá lỏng và chế phẩm cho thị trường bán lẻ nội địa.
Cân bằng trong tương lai. Có nhiều hình khác nhau dự đoán cân bằng khí đốt tại Việt Nam đến từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, họ nhất trí cho rằng Việt Nam sẽ bị thiếu gas trong những năm tới do nhu cầu tăng lên cho thế hệ quyền lực và sự tăng trưởng không đủ cung cấp. Tình trạng này có thể tồi tệ hơn trong tương lai nếu nguồn khí mới không được tìm thấy. Dựa trên các ước lượng hiện tại của chính phủ, yêu cầu điện đã tăng trưởng 15 phần trăm trong năm 2015 và sẽ tiếp tục tăng 12% hàng năm trong năm năm.
Sản phẩm khí và ứng dụng tại Việt Nam. Hầu hết các sản xuất khí thiên nhiên ở Việt Nam được xử lý và sau đó được gửi trực tiếp cho nhà máy điện và người dùng cuối cùng ngành công nghiệp. Việt Nam dự kiến chia sẻ của khí tự nhiên đã được cài đặt, tạo ra khả năng tăng lên khi thêm các nguồn tài nguyên khí đốt tự nhiên trở nên có sẵn, thêm các dự án khí sức mạnh đến trực tuyến và thêm nhiên liệu chuyển đổi xảy ra tại một số đơn vị điện. Có những sản phẩm chính khí năm, bao gồm cả Liquefied petroleum khí (LPG) được tính là 20%, khí khô tính là 9%, ngưng tụ tính 2%, khí thiên nhiên nén (CNG) tính là 12% và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) tính là 57%. (Hình 5)
Khí dầu hoá lỏng (LPG) chủ yếu được sử dụng làm nhiên liệu chính cho xe hoặc nhiên liệu cho các khách hàng công nghiệp với công suất 1,3 triệu tấn mỗi năm, tính cho 70% thị trường trong nước chia sẻ. PV Gas Trading là các đơn vị kinh doanh hàng đầu trên thị trường bán buôn LPG tại Việt Nam, với công suất mạnh mẽ cho doanh nghiệp và thị trường chia sẻ phát triển trong tất cả ba miền Việt Nam và bắt đầu tham gia vào thị trường khu vực. Khách hàng bán buôn của PV Gas Trading là các công ty phân phối và kinh doanh LPG trong nước.
Khí khô Khí khô được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu như là nhiên liệu cho nhà máy điện và nhiên liệu cho các nhà máy hóa dầu để sản xuất phân bón, methanol, DME, vv. Ở Việt Nam, khí khô hiện đang được sử dụng để sản xuất khoảng 36% điện (năm 2011) và 85% đến 90% lượng phân bón nitơ. Trong tương lai, nó sẽ được sử dụng làm nhiên liệu cho tổ hợp hóa dầu. PV Gas hiện đang chi phối 100% thị phần. Từ năm 1995, PVGAS đã cung cấp hơn 53 tỷ mét khối thị trường. Trên thị trường Việt Nam khí chủ yếu tập trung ở khu vực phía nam nơi cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp khí đốt đã được phát triển tương đối đầy đủ. Thị trường khí đốt ở phía Bắc và khu vực trung tâm được coi là một thị trường tiềm năng. 90% của khí khô đến điện thế hệ, 6% cho sản xuất phân bón và 4% cho việc sản xuất khí thấp áp. (Hình 6)
Khí ngưng tụ được sản xuất từ khí ẩm, lấy trong lĩnh vực dầu khí và được sử dụng để sản xuất xăng thành phẩm. Khí nén là chủ yếu được sử dụng để sản xuất xăng, dầu hỏa (KO), động cơ diesel (DO), dầu nhiên liệu (FO), dung môi công nghiệp và cũng được sử dụng làm nhiên liệu cho tổ hợp hóa dầu để sản xuất các olefin, BTX, vv. Khí ngưng tụ hiện đang được cung cấp từ ba nhà máy: Dinh Co thực vật (soát PVGas), Thi Vai thực vật (sản phẩm công ty dầu khí - PDC) và nhà máy Lai Cat (Sài Gòn dầu khí công ty TNHH - Saigon Petro).
Hiện nay, do sự suy giảm trong sản xuất khí đốt trong bồn trũng Cửu Long của nó, khối lượng nước ngưng tụ do PV Gas sản xuất tại nhà máy xử lý khí Dinh cố chỉ giới hạn khoảng 60.000 tấn mỗi năm. Bên cạnh đó, các kế hoạch để nâng cao giá khí nén đang được áp dụng để giảm thiểu khoảng cách giữa giá khí ngưng tụ trong nước và quốc tế.
Khí nén tự nhiên (CNG) có thể được xử lý và nén ở áp suất cao cho lợi thế lưu trữ và vận chuyển do giảm thể tích khí để 200 - 250 lần. Vì đốt cháy hoàn toàn, không gây lắng trong các thùng đốt và carburettor, CNG sẽ giúp cải thiện hiệu suất, kéo dài cuộc sống chu kỳ và dịch vụ trong bảo trì máy móc và thiết bị. CNG giá khoảng 10% - 30% rẻ hơn so với xăng dầu và giá này là ổn định trong một thời gian dài so với các sản phẩm dầu mỏ. Vì vậy, CNG bây giờ sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới như một nhiên liệu thay thế cho động cơ. Ngoài ra, CNG cũng được dùng làm nhiên liệu cho công nghiệp tiêu dùng ở xa đường ống dẫn khí.
CNG đã được đưa ra thị trường từ năm 2008. Mặc dù là một sản phẩm mới, CNG đã được thị trường chấp nhận vì giá của nó cạnh tranh so với các nhiên liệu thông thường như xăng, dầu, LPG. Khách hàng CNG, vẫn chủ yếu ở khu vực phía Nam, là các nhà sản xuất gạch men, thép và sứ, vv nằm cách xa đường ống dẫn khí đốt PV.
Khí thiên nhiên hoá lỏng(LNG) có thể được vận chuyển từ địa điểm sản xuất LNG cho các quốc gia trên khắp thế giới qua đại dương bằng cách sử dụng các tàu chở dầu dương với một tải trọng của 140.000 đến 260,000 m3. Tại các cơ sở tiếp nhận, LNG được chuyển trở lại trạng thái khí và gửi qua đường ống phân phối cho người tiêu dùng. LNG có thể sử dụng như là khí khô được nhiên liệu để tạo ra điện, sản xuất phân bón, LNG, một sản phẩm mới của PV Gas, dự kiến sẽ được tung ra trong năm 2015. PV Gas có kế hoạch để sản xuất và cung cấp LNG theo hai cách:
LNG Vệ tinh: LNG được sản xuất từ nguồn khí tự nhiên trong nước. Sau đó được vận chuyển bằng xe tải, tàu chở dầu và sà lan và được iếp nhận tại trạm khí đốt hoặc tại cơ sở của khách hàng. Bằng cách này, sản lượng LNG chỉ có một khối lượng giới hạn vì nó là một dự án thí điểm. LNG vệ tinh sẽ được sử dụng chủ yếu trong giao thông vận tải, và một phần nho sẽ được sử dụng trong ngành công nghiệp chế biến.
Nhập khẩu LNG: Theo kế hoạch phát triển trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam sẽ có thêm nhà máy điện mới sử dụng khí thay vì các nhiên liệu thông thường như than và dầu. Nhu cầu cấp bách là phải có một khối lượng khí nhất định để bù đắp sự thiếu hụt khí đốt tại thị trường trong nước. Trong giai đoạn đầu tiên, LNG dự kiến sẽ được nhập khẩu bằng tàu chuyên dụng trên tàu sân bay trước khi giao hàng vào đường ống dẫn khí vào năm 2015 để cung cấp người tiêu dùng.
Tuy nhiên, vì giá nhập khẩu LNG cao hơn nhiều so với giá xăng trong nước hiện nay, nên hầu như không thể cung cấp LNG cho nhà máy điện theo lộ trình tăng giá khí dần dần. Do đó, khách hàng mục tiêu của LNG sẽ là chỉ là những khách hàng có thể đủ khả năng trả giá LNG, bao gồm cả các nhà sản xuất công nghiệp và nhà máy điện mới (Hiệp Phước, Son My...).
 
Các đối thủ cạnh tranh
Có 4 doanh nghiệp chính trong ASEAN, đó là PETRONAS (Malaysia), PTT (Thailand), PERTAMINA (Indonesia) và PV Gas (Vietnam).
Petronas (Petroliam Nasional Berhad) là một công ty thuộc sở hữu của chính phủ Malaysia đã được giao cho với các nguồn tài nguyên dầu và khí toàn bộ tại Malaysia và được giao phó với trách nhiệm phát triển và thêm giá trị cho các nguồn tài nguyên. Được thành lập vào năm 1974, Petronas được xếp hạng trong số 500 công ty lớn nhất trên thế giới. Tài sản của Petronas là đứng trong 75 công ty lớn nhất trên thế giới trong năm 2013. Nó cũng là công ty có lợi nhuận nhất tóp 12 trên thế giới và sinh lợi nhất ở Châu á. Petronas có lợi ích kinh doanh tại 35 quốc gia, bao gồm các công ty con thuộc sở hữu 103, 19 sở hữu một phần trang phục và 57 công ty liên kết, là người có ảnh hưởng nhất và chủ yếu là thuộc sở hữu nhà nước quốc gia dầu và khí đốt công ty từ nước ngoài OECD. Petronas là tham gia vào một phổ rộng của dầu khí hoạt động, bao gồm thăm dò, sản xuất, tiếp thị và phân phối, khí chế biến, hoạt động mạng lưới đường ống khí truyền tải, vận chuyển và đầu tư bất động sản.
PTT (PTT Public Company Limited  là doanh nghiệp của chính phủ Thái Lan  chuyên chiết xuất và lọc dầu và khí đốt. Trước đây được gọi là dầu khí Thái Lan, nó sở hữu đường ống dẫn khí tàu ngầm rộng lớn ở Vịnh Thái Lan, một mạng lưới các thiết bị đầu cuối LPG trong suốt Vương Quốc, và tham gia trong phát điện, sản phẩm hóa dầu, khai thác dầu và khí đốt và sản xuất và kinh doanh bán lẻ xăng dầu. PTT là một trong những tập đoàn lớn nhất trong cả nước và cũng là công ty duy nhất từ Thái Lan được liệt kê trong Fortune Global 500 công ty đứng thứ 81 trong số 500 công ty hàng đầu trên thế giới và 180 trong tạp chí Forbes 2000.
Pertamina (Công ty khai thác dầu nhà nước) là một công ty thuộc sở hữu của chính phủ Indonesia mà chiết xuất và lọc dầu và khí đốt. Nó được thành lập năm 1968 do sát nhập của Pertamin và Permina. Pertamina là nhà sản xuất và xuất khẩu LNG lớn nhất của thế giới hiện nay. Trong năm 2013 lần đầu tiên, Pertamina xếp hạng thứ 122 trong danh sách Fortune Global 500 công ty với doanh thu hơn 70 tỷ USD.
Chỉ PTT Thái Lan đã phát triển một chiến lược để tìm kiếm các sản phẩm thay thế từ năm 2003, đặt PTT bên ngoài của mối đe dọa của chất thay thế. Malaysia và Indonesia với trữ lượng lớn sẽ bị ảnh hưởng ít hơn.
Với việc sử dụng dự trữ như hiện này, Việt Nam có thể sử dụng không quá 25 năm. Do đó trong số bốn đối thu, PV Gas Việt Nam đang trong tình huống nguy hiểm nhất. 80% của khí cầu ở Việt Nam là khí khô, LNG cho phát điện và phân bón. Do khí giá quyết định bởi chính phủ tương đương với 11-51% so với giá thế giới, Việt Nam không thể làm cho lợi nhuận này. Đặc biệt, theo yêu cầu Việt Nam – cung cấp dự toán, Việt Nam cần phải nhập một số lượng đáng kể từ những người chơi khác để cân bằng nhu cầu năng lượng. PV Gas đã thừa nhận những khó khăn nhất định về món hời nhà cung cấp. Theo hội nhập kinh tế, khách hàng thỏa thuận sẽ đe dọa PV Gas do giá sản phẩm của họ.
 
Phép phân tích PEST
Tóm lại, đây là 7 mục chính mà phân tích PEST (Hình 7) đưa ra về môi trường PV Gas đang hoạt động:
Chính trị. Chính trị khu vực ASEAN đã trở nên ổn định. Chính phủ Việt Nam, các tập đoàn và tất cả cơ quan hỗ trợ hầu hết chó sự phát triển ngành công nghiệp dầu khí trở nên quan trọng theo chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam.
Kinh tế. Kinh tế thế giới đi xuống. Việt Nam tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tạo ra các cơ hội để tăng trưởng kinh tế bao gồm ngành công nghiệp dầu khí.
Xã hội. Toàn cầu hóa trên toàn thế giới đang phát triển tạo cơ hội cho Việt Nam tham gia vào các hoạt động dầu và khí đốt quốc tế. Chính sách nhà nước Việt Nam đang trở dần cởi mở và minh bạch nhiều hơn nữa và tạo ra các cơ hội tuyệt vời để phát triển.
Công nghệ. Công nghệ bây giờ phát triển nhanh và thế giới có thể tiếp cận kiến thức mới chỉ qua nghiên cứu. Trong thời gian tham gia hoạt động khí đốt và dầu mỏ quốc tế, Việt Nam có thể thực hành các kỹ thuật, công nghệ mới và thành thạo trong thời gian.
 
Các nhân tố thành công chủ chốt
Phân tích môi trường hoạt động. Để phân tích môi trường hoạt động, chúng tôi sử dụng các yếu tố thành công chủ chốt. Việc xác định các yếu tố chủ chốt sẽ mang lại thành công trong việc cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, tài nguyên, nguồn nhân lực, công nghệ, thị trường, vốn, sản phẩm, dịch vụ là các nhân tố chính (hình 8) để xác định 4 tập đoàn gì và như thế nào để đạt được trên phương diện chiến lược hoạt động kinh doanh và mục tiêu chiến lược.
Căn cứ vào yếu tố chủ chốt trong hình 9, chúng tôi có tính trọng số với hình 10. Từ đó chúng tôi thấy rằng: PV Gas đứng số 4 trong số 4. PV Gas thấp hơn so với Pertamina chỉ một chút trong số 4 tập đoàn. (Hình 11)
Vì vậy, để phát triển, nguồn nhân lực là rất cần thiết. Con người làm tất cả các bước từ thăm dò, áp dụng công nghệ, hoạt động, sản xuất, chế biến, phân phối, kinh doanh... Với sức mạnh của những người không chịu thua trong lịch sử, Việt Nam có thể áp dụng công nghệ, và một chiến lược thích hợp để đạt được cấp khu vực.
Bốn tập đoàn đều là doanh nghiệp nhà nươc nhưng có chiến lược khác nhau làm cho mỗi doanh nghiệp có vai trò khác nhau trong ASEAN. PV Gas là công ty công đầu tiên hoạt động theo chiến lược theo định hướng thị trường,  PV Gas nên làm gì để có sự khác biệt?
Phân tích môi trường công nghiệp
Phân tích thị phần nội địa. Có 4 nhóm đối thủ trong thị trường nội địa bao gồm: Nhóm 1 gồm các công ty lớn trong nước như Petrolimex, Shell, Total, VT Gas. Nhóm 2 gồm các công ty trung bình như đồng Sài Gòn DSG dầu và khí đốt, HM khí; Nhóm 3 gồm các công ty nhỏ giống như Sài Gòn Petro, MT Gas.
Ngày nay, hầu như không có mối đe dọa đáng kể cho PV Gas từ đối thủ cạnh tranh về sản phẩm danh mục đầu tư và thị trường nội địa. PV Gas là rõ ràng là tay chơi lớn nhất và quan trọng nhất trong ngành công nghiệp khí tự nhiên tại Việt Nam nhưng không phải là độc quyền như một vài báo cáo quốc tế định nghĩa. Nó được nhìn nhận như một ngành công nghiệp bắt buộc và đang hoạt động trong một môi trường theo định hướng thị trường.
PV Gas cần phải duy trì các thị trường truyền thống bao gồm 100% thị trường khí khô, 70% thị phần của khí dầu hoá lỏng (LPG). Kinh doanh bán lẻ LPG được chuyển đến các chi nhánh ở phía Bắc và phía Nam, nơi đang nắm giữ phần lớn thị trường bán lẻ lớn ngày nay. PV Gas nên đầu tư vào thị trường LPG cho việc cung cấp tòa nhà căn hộ nhiều tầng ở thành phố lớn, đầu tư này sẽ tăng đáng kể doanh thu và thu nhập. Ngày nay, một nửa lượng LPG đến từ nhập khẩu; PV Gas tăng nguồn này bởi quá trình chế biến chuyên sầu chứ không phải để nhập khẩu, để kiếm thêm tiền. PV Gas nên mở rộng số lượng trên thị trường xuất khẩu bên Campuchia, Philippines, Malaysia, Bangladesh.
Hiện tại, chỉ có 28 xe buýt sử dụng nhiên liệu CNG tại TP HCM. Trong giai đoạn đầu của việc thực hiện của CNG được tung ra, nó có hiển thị các lợi thế về hiệu quả kinh tế, an toàn và thân thiện với môi trường và cũng được chấp nhận bởi người dân địa phương. Theo Phòng giao thông, uỷ bân nhân dần Hồ Chí Minh đã phê duyệt các dự án hoạt động thêm 300 xe buýt CNG kể từ năm 2014 nhưng chưa được trở thành sự thật. Đây thực sự là một cơ hội lớn để đầu tư nhiều hơn cho CNG xe buýt ở thành phố Hồ Chí Minh và phát triển thêm xe buýt sử dụng CNG tại Hà Nội và thành phố lớn khác để mở rộng thị trường CNG cũng như cải thiện thu nhập chuyển đổi động cơ chạy trên khí, để tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Thị trường khí khô tập trung ở phía nam của Việt Nam. Thị trường này nên được mở rộng ở các khu vực miền trung và miền Bắc Việt Nam khi phát triển các cơ sở hạ tầng đường ống. LNG xuất phát từ 2 nguồn chính: sản xuất và nhập khẩu. PV Gas là mạnh tại các thị trường bán buôn để người dùng cuối và người sử dụng công nghiệp nhưng vẫn yếu tại thị trường bán lẻ. PV Gas cần phải tập trung hơn vào việc nhập khẩu và lưu dự trữ cho tương lai. Kể từ khi khí cô đặc được sử dụng để trộn xăng, xăng được bán ở mức giá thị trường, vì vậy giá khí ngưng tụ có thể được điều chỉnh nhiều hơn cho sự tăng trưởng kinh tế.
 
Phân tích năm lực lường của môi trường công nghiệp.
Căn cứ vào ngành công nghiệp môi trường Việt Nam, chúng tôi có điểm số cho năm sản phẩm trọng điểm như hình 13. Sử dụng phân tích 5 lực lượng của Michael Porter để phân tích các hàng hóa, kết quả có thể được định lượng như trên hình 11. Từ đó, chúng tôi có thể có một số ý kiến khi thực hiện theo:
S Nguồn LPG đến từ dầu thực vật tinh chỉnh, nhập khẩu hoặc công ty nước ngoài. Công ty nước ngoài có chiến lược để thấp xuống giá.
S Khí khô: cần phải lưu trữ Nhật Vina Benny Corporate đang xây dựng hết 80.000 tấn trong khi PV Gas là 60.000 tấn dẫn đến khủng hoảng.
S LNG: cần lưu trữ tại cảng nước sâu. Nhập khẩu từ Úc và Trung Đông. Họ có thể hợp tác lạc hậu để đe dọa.
S Substitute energy threats strictly now to natural gas with Coal bed methane (CBM), Hydrate, Shale gas, CO2 treatment. with huge reserves that promote PV Gas on scientific research or all assets of PV Gas will be exploredNăng lượng thay thế các mối đe dọa nghiêm trọng tới khí tự nhiên đến với than giường mêtan (CBM), hydrat, đá phiến sét khí CO2 điều trị. với trữ lượng lớn thúc đẩy PV Gas trên nghiên cứu khoa học hoặc tất cả tài sản của PV Gas sẽ được khám phá.
Căn cứ vào bốn yếu tố then chốt là dự trữ, sản xuất, tiêu thụ và cân bằng chúng ta có thể xác định như hình 14. Căn cứ vào môi trường Việt Nam, chúng tôi đánh giá cho năm sản phẩm trọng điểm như hình 15. Sử dụng phân tích 5 lực lưỡng của Michael Porter để phân tích đối thủ cạnh tranh, kết quả có thể định lượng như hình 16, hình 17, hình 18. Từ đó, chúng tôi có thể có một số ý kiến khi thực hiện theo:
S Cả bốn đều là các doanh nghiệp có nguồn vốn nhà nước
S PV Gas trở thành tập đoàn công đầu tiên trên phương diện chính sách theo định hướng thị trường
S Mỗi doanh nghiệp đều theo đuổi công nghệ và chiến lược khác nhau để xác định vị thế cua mình trong cạnh tranh.
S PTT với trữ lượng thấp nhất, tập trung vào việc nhập khẩu LNG và tinh chế hoặc xử lý sâu để thêm giá trị cho sản phẩm và kiếm tiền.
S Pertamina theo đuổi chiến lược dựa trên nguồn lực mà tập trung vào khai thác và xuất khẩu chứ không tạo ra nhiều tiền.
S Petronas hoạt động khôn ngoan nhất do tiết kiệm nguồn dự trữ và tập trung tinh luyện chuyên sâu để tạo ra lợi nhuận.
Nhân tố bên trong - cái nhìn sâu hơn vào PV Gas
 
Phép phân tích SWOT
Điểm mạnh.
Tài sản. PV Gas có 3 hệ thống khí đốt tự nhiên: Cửu Long dài 117 km - công suất 2 tỷ m3 mỗi năm ra đường ống nước ngoài và dòng sản phẩm lỏng 3-way trong đường ốn trong nước, Nam Côn Sơn dài 400 km - công suất 7 tỷ m3 mỗi năm, PM3 - Cà Mau phân phối hệ thống dài 330 km - công suất là 2 tỷ đồng mỗi năm. Nó có một lòng chảo dự trữ khí nén lớn 48.000 m3 và hệ thống kho LPG với 15.000 tấn. CNG với 3 tấn thùng xe tải, đầu tiên thời kỳ công suất nhà máy 30 triệu m3 / năm, LPG phân phối các hệ thống đơn vị công suất 750 ~ 850 tấn mỗi ngày, xuất khẩu và nhập khẩu cầu hệ thống với sức chứa 20.000 DWT và 2,000 DWT.
PV Gas có nguồn vốn con người trẻ với tình đoàn kết, được đào tạo tốt, trách nhiệm và sự sáng tạo. Khí tự nhiên dự trữ tại Việt Nam là xấp xỉ 394.7 tỷ m3 trong đó 69,9 tỷ m3 khí đốt hỗn hợp, 324.8 tỷ m3 khí đốt, 18 triệu tấn kết khí ngưng tụ. Bên cạnh đó khí ngưng tụ ngày càng tăng dự trữ xấp xỉ khoảng 250 tỷ m3. Hầu hết các nguồn khí là tươi với lượng CO2 cao và một số với H2S trung bình.
Chính phủ hỗ trợ PV Gas khá nhiều, coi đây là ngành công nghiệp quan trọng của quốc gia, tạo những điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp phát triển.
Thị trường: Dân số hơn 90 triệu người, 9 nhà máy năng lượng sử dụng 7160 triệu m3/năm, 6 nhà mays khác sẽ hoàn thành vào năm 2015, 1 nhà máy phân bón, 41% lượng khí dầu hoá lỏng bản buôn nội địa, 22% bán lẻ... đều là những điểm ấn tượng cho thị trường của PV Gas.
Điểm yếu
Tính cho tới nay, PV Gas đã bùng nổ ra nước ngoài trong khi chưa đáp ứng hết nhu cầu thị trường do không phối hợp tốt giữa sản xuất và tiêu thụ. Sản phẩm không phải là đa dạng. Hoạt động đầu tư vẫn còn chậm và chưa đồng bộ mà ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và kinh doanh. Tiện nghi và trang thiết bị không đáp ứng sự phát triển của công ty.
Cơ hội
Sự chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình mới kiểu tập đoàn Petro Việt Nam và công ty PV Gas mang lại quyền tự chủ hơn trong sản xuất, hoạt động kinh doanh và đầu tư. Nhờ các ưu điểm về kinh tế và môi trường khí, nhu cầu cho các sản phẩm khí phát triển nhanh chóng theo thời gian và xu hướng tăng. PV Gas đã duy trì mức tăng trưởng cao và liên tục từ thành lập cho đến bây giờ bởi vì công ty có nguồn nhân lực trẻ tuổi với đoàn kết, được đào tạo tốt, trách nhiệm và sự sáng tạo.
Mối đe doạ
Giá bán của PV Gas là tương đương với 15-51% của giá trên toàn thế giới, điều này gây khó khăn đối với nhập khẩu khí khô và LNG, thăm dò, sản xuất, giao thông vận tải. Thu nhập của PVGAS chủ yếu xuất phát từ lĩnh vực bạch hổ trong khi dự trữ của lĩnh vực này giảm. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến các doanh nghiệp hoạt động. Hầu hết khí tài nguyên ở nước ngoài, không tập trung, một số có CO2 cao dẫn đến chi phí sản xuất và giao thông vận tải cao. Hầu hết khí tài nguyên nằm ở phía đông và Tây Nam dẫn đến chi phí cho giao thông vận tả cao hơn.
Nguồn tài nguyên dầu trên toàn thế giới đã giảm đáng kể trong khi nhu cầu sẽ không xuống dẫn tới giá sản phẩm đi lên. Điều đó làm việc tìm nguồn cung ứng khó. Hệ thống đường ống cần số vốn khổng lồ và chỉ mang lại lợi nhuận khi có thị trường. Điều này cần phối hợp tốt giữa các lĩnh vực chủ sở hữu và thị trường.
Xu hướng toàn cầu hóa làm cho thị trường so sánh lợi thế hơn. PV Gas đã phải đối mặt với vốn lớn - công nghệ mạnh mẽ - kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp tại thị trường trong nước cũng như quốc tế. Các sản phẩm năng lượng tái tạo, thay thế làm thị trường bị chia sẻ. Phạm vi của PV Gas đã lớn hơn nhiều mà làm cho hoạt động quản lý trở nên phức tạp hơn. Khí tự nhiên là đốt cháy và nổ tài nguyên, khí công trình và cây được bố trí ở nhiều khu vực gây khó khăn đối với an ninh cũng như các hoạt động môi trường.
 
Ma trận không gian
Vị trí của PV Gas' trong không gian ma trận ở đâu? Chỉ đạo chiến lược nào cho PV Gas? Từ hình 19, chúng tôi tìm thấy giá trị của trục X = 4,5 và trục Y = 3,75. Từ đó chúng ta có thể xây dựng đồ thị tuyến tính như hình 20. Hình cho thấy rõ ràng rằng các chiến lược để tối đa hóa lợi nhuận cho PV Gas là phải sản xuất bán.
 
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này đã được hỗ trợ bởi: Tran Ngoc Tuan (Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học FPT, Vietnam), Nguyen Thi Nha (Khoa Sau đại học, ĐH Binh Duong, Vietnam), Mai Thi Thanh Thuy (Khoa nghiên cứu và phát triển kinh tế, tập đoàn đầu tư U&I , Vietnam), và Le Thi Phuong Hoang Yen (khoa Tài chính Ngân hàng, Đại học Nguyen Tat Thanh, Vietnam).
 
Kết luận và ý nghĩa
Mục tiêu tổng thể của chiến lược PV Gas là tích hợp bốn khía cạnh, cụ thể là, hiệu quả năng lượng, nghiên cứu khoa học, tăng trưởng kinh tế và kế hoạch cho PV Gas trở thành công ty khu vực, nhằm tăng cường sự phát triển kinh tế và tăng sự cạnh tranh của đất nước.
Chiến lược này được thiết lập theo hướng đẩy ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển mạnh mẽ, an toàn và hiệu quả để đóng góp cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia và chiến lược của tổng công ty cổ phần Gas Petro Việt Nam
Cách duy nhất là áp dụng lý thuyết trò chơi trong chiến lược của họ để đạt được kết quả tốt nhất
Dưới đây là những ý nghĩa quan trọng cho PV Gas:
•        Phát triển các hệ thống nhiên liệu sinh học trong các khu vực nông thôn để thay thế nhiên liệu hóa thạch tiêu thụ.
Mở rộng cơ sở hạ tầng đường ống dẫn khí ở miền trung và phía bắc của Việt Nam cho LNG và khí khô để mở rộng thị trường tiêu thụ.
•        Phát triển nguồn nhân lực để thích ứng với công nghệ mới cũng như thực hiện các mục tiêu chiến lược.
Giảm sản xuất thấp hơn tiêu thụ để cải thiện việc nhập khẩu cho quá trình sâu và phát triển sản phẩm. Sản xuất tương đương với mức tiêu thụ không phải là một ý tưởng tốt.
•        Quảng bá trên các nghiên cứu khoa học với than giường mêtan (CBM), hydrat, đá phiến sét khí CO2 điều trị... cho năng lượng thay thế. Năng lượng thay thế các mối đe dọa nghiêm bây giờ để tự nhiên khí với trữ lượng lớn
•        Cải thiện về nhập khẩu; tập trung vào các quá trình sâu để kiếm tiền. Tiết kiệm các nguồn lực hạn chế.
•        Điều chỉnh giá khí ngưng tụ và khí khô gần với giá quốc tế cho tăng trưởng kinh tế.
 
Các yếu tố then chôt để thành công Bảng điểm cho Hoạt động Quét Môi trường
Các yếu tố
Điểm
1
2
3
4
Vốn
trên $4 tỉ
trên $3 tỉ
trên $2 tỉ
trên $1 tỉ
Ngồn nhân lực
trên 1000 chuyên gia
trên 750 chuyên gia
trên 500 chuyên gia
trên 250 chuyên gia
Thị trường
Trong nước Quốc tế phạm vi lớn
Trong nước Quốc tế phạm vi trung bình
Trong nước phạm vi lớn
Trong nước
Sản phẩm
Nhiều chế độ đã xử lý tập trung sâu
Nhiều chế độ đã xử lý  sâu
Nhiều chế độ đã xử lý  
 
Đã xử lý
Thô
Dự trữ
trên 5 tỉ Mtoe
trên 4 tỉ Mtoe
trên 3 tỉ Mtoe
trên 2 tỉ Mtoe
Dịch vụ
Thăm dò
Khai thác
Cơ khí
Lọc
Kiểm tra
THăm dò
Khai thác
Cơ khí
Kiểm tra
Thăm dò
Khai thác
Kiểm tra
Thăm dò
Khai thác
 
Công nghệ
Bí Bí quyết khai thác Bí quyết xử lý Bí quyết xử lý sâu
Kinh nghiệm
 
Bí Bí quyết khai thác Bí quyết xử lý sâu
Kinh nghiệm
 
Bí Bí quyết khai thác Bí quyết xử lý
Kinh nghiệm
 
Bí Bí quyết khai thác
Kinh nghiệm
 
 
Các yếu tố then chôt để thành công Bảng Trọng lượng cho Hoạt động Quét Môi trường
Số TT
Các yếu tố
Trọng lượng
PV GAS
SCORE
PETRONAS
SCORE
PERTAMINA
SCORE
PTT
SCORE
1
Dự trữ
0.4
3.0
1.1
3.0
1.1
4.0
1.4
2.0
0.7
2
Nguồn nhân lực
0.1
3.0
0.3
3.0
0.3
2.0
0.2
4.0
0.4
3
Công nghệ
0.2
2.0
0.4
4.0
0.8
2.0
0.4
3.0
0.6
4
Thị trường
0.1
4.0
0.2
4.0
0.2
2.0
0.1
3.0
0.2
5
Vốn
0.2
2.0
0.3
4.0
0.6
2.0
0.3
3.0
0.5
6
Sản phẩm
0.1
2.0
0.1
4.0
0.2
2.0
0.1
3.0
0.2
7
Dịch vụ
0.1
2.0
0.2
3.0
0.3
1.0
0.1
3.0
0.3
 
Tổng điểm
1
 
2.55
 
3.45
 
2.6
 
2.75
 
Bảng Phân tích Lực lượng Hàng hoá 5
 
Đối thủ
Khách hàng mặc cả
Nhà cung cấp mặc cả
Mối đe doạ mới
Mối đe doạ thay thế
Khí khô (C1-C2)
0.25
0.25
2
0.5
0.25
LNG
2.5
0.5
2.5
2
2.5
LPG (C3-C4)
2.5
2
1.5
3
2.5
Ngưng tụ(C5)
0.5
0.25
0.25
1.5
0.25
CNG
0.25
0.25
2.25
1.25
1.75
 
Dự trữ - Sản xuất - Tiêu thụ và Cân bằng giữa Bảng bốn Quốc gia
 
 
 
 
 
 
Dự trữ (Mtoe)
Sản xuất (Mtoe)
Tiêu thụ (Mtoe)
Cân bằng (Mtoe)
Vietnam
240.7
8.4
11.0
-2.6
Malaysia
2,480.0
60.0
21.0
39.0
Indonesia
2,760.0
74.0
32.0
42.0
Thailand
35.0
24.0
30.0
-6.0

Đối thủ cạnh tranh 5 Bảng Phân tích Lực lượng
 
RIVARLY
Khách hàng mặc cả
Nhà cung cấp mặc cả
Mối đe doạ mới
Mối đe doạ thay thế
PV GAS
2.5
3
2
2.5
2.5
PETRONAS
0.5
0.25
0.5
0.5
1.5
PERTAMINA
1.5
0.5
1
0.5
2
PTT
1
1
1.5
0.5
1
 
Bảng đánh giá không gian ma trận
Sức mạnh tài chính  (FS)
Ổn định môi trường  (ES)
S Hoàn vốn
5
Tỉ lệ lạm phát
-3
S Trung bình
6
 
Rào cản thâm nhập
-1
S Tính thanh khoản
6
•/
Thay đổi công nghệ
 
-2
S Dòng tiền
5
•/
Sự biến động của nhu cầu
-1
Trung bình
5.5
Trung bình
-1.75
Lợi thế cạnh tranh  (CA)
  Sức mạnh của ngành (IS)
S Nguồn lực con người
 
-2
Tiềm năng tăng trưởng
6
S Hỗ trợ của Chính phủ
-1
 
Lợi nhuận tiềm năng
5
S Thị phần
-1
•/
Quy mô vốn
6
S Kiểm soát đối thủ và nhà phân phối
-1
•/
Bí quyết công nghệ
6
Trung bình
-1.25
Trung bình
5.75
 
Thư gửi Trường Đại học California/ Biên tập viên
Ngày 4 tháng 1, 2016
Kính gửi Trường ĐH California / Biên tập viên và những người quan tâm
Điều này là để chứng minh rằng nhóm sinh viên đến từ Đại học tiểu bang California tên là Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn phúc vĩnh tường, Nguyễn Đức bảo Long, Nguyen Thi Nha, Mai thị Thanh Thúy, Lê thị phương hoàng yến, Phan Xuan Chuong, Tran Thien Ly và Phan Văn định đã viết "Chiến lược dầu khí của Petro Việt Nam tới 2025" với hỗ trợ từ Chủ tịch Hội đồng quản trị, ThS. Nguyễn Mậu dũng - phó chủ tịch, hướng dẫn của thầy vũ đình Huy, Thạc sĩ Phan Anh Tuấn, thầy Phan Huy Vuong, kỹ sư Trần Đức Sơn.
Các chiến lược khác nhau của chúng tôi đã được phê duyệt yêu cầu các nguồn tài nguyên và một số tiền vốn rất lớn này cơ bản dựa trên nghiên cứu thị trường mà tối ưu hóa năng lực hiện có khí cơ sở hạ tầng, dự trữ và nguồn nhân lực. Cách tiếp cận này mới có thể đạt được kết quả trong thời gian ngắn và kinh tế.
"Áp dụng lý thuyết trò chơi để đạt được tốt nhất" chúng tôi lần đầu tiên nghe từ những người bên ngoài ngành công nghiệp nhưng có khả thi.
Chúng tôi tin tưởng rằng chiến lược này là đơn giản và dễ áp dụng. Và chiến lược này có thể đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và an ninh năng lượng Việt Nam.
Trân trọng!
 
ThS. Nguyễn Mậu dũng phó chủ tịch
Tài liệu tham khảo
1.        EIA, E.I. (2012). Country Analysis Briefs Vietnam. Energy Information Administration EIA.
2.        EIA, U.E. (khôhg ngày tháhg). Natural Gas. Đũtruy lục January 8, 2016, từ U.S. Energy Information Administration EIA: http://www.eia.gov/naturalgas/
3.        IEA, I.E.(2012). Gas Medium-term Market Report 2012. Trong I. E. IEA. France: OECE/IEA, 2012.
4.        IEA, I.E.(2014). World Energy Outlook 2014 Excutive Summary . Trong I. E. Agency. France: OECD/IEA, 2014.
5.        IEA, I. E. (2014). World Energy Outlook 2014 Factsheet Globay energy trends to 2035. France: OECE/IEA, 2014.
6.        IEA, I. E. (2014). World Energy Statistics Documentation for beyond 2020 files (2014 edition). Trong I. E. Agency. IEA.
7.        IEA, I.E.(2015). Energy Statistics Manual. Trong I. E. IEA. OECD/IEA, 2005.
8.        IEA, I.E. (2015). World Energy Outlook 2015. OECE/ IEA 2015. London: www.worldenergyoutlook.org.
9.        IEA, I.E. (2015). World Energy Outlook 2015 Factsheet Global energy trends to 2040. France: OECD/IEA,
2015.
10.      IMF.(2013). IMF Report on Vietnam Industries Overview. Hanoi: IMF.
11.      Journal, O. a. (khôhg ngày tháhg). Đữtruy lục January 8, 2016, từ Oil and Gas Journal: http://www.ogj.com/index.html#
12.      Nguyen Duc Bao Long, V. D. (2010, November 14). PV Gas Strategy Toward 2025. Griggs University, MBA Capstone Project.
13.      PVGAS, P. G. (2007, April 10). Đữtruy lục January 8, 2016, từ pvgas: https://www.pvgas.com.vn/home
14.      Sekaran. (2003). Research Method for Business: A skill building approach. John Wiley & Sons.
15.      Sturgeon, & R., F. (1999). The World that Changed the Machine: Globalization and Jobs in the Automotive Industry. International Motor Vehicle Program - MIT Global Research.
16.      Sturgeon, T. (2003). The Automotive Industry in Vietnam: Prospects for Development in a Globalizig Economy. Top Ten Strategy Picks, Abraham Group Inc.
17.      Tran Ngoc Tuan, N. P. (khchg ngày tháhg). Petro Vietnam Gas Strategy Towards 2025.